Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Quản lý sự tham gia của khách hàng trong các doanh nghiệp bưu chính, chuyển phát

TS. Trần Thị Thập

Đối với các doanh nghiệp (DN) cung ứng dịch vụ thì khách hàng của họ, bên cạnh vai trò là ngườitiêu dùng dịch vụ (tương tự như người sử dụng hàng hóa đối với DN sản xuất vật chất), còn đóng vai trò của người tham gia tạo ra dịch vụ. Trong mối quan hệ tạo - chuyển giao dịch vụ giữa DN và khách hàng thì sức sản xuất của DN khác nhau sẽ tạo ra năng suất dịch vụ khác nhau nhưng mặt khác chất lượng khách hàng khác nhau cũng tạo ra năng suất khác nhau. Các DN bưu chính/chuyển phát với đặc tính cơ bản của lĩnh vực dịch vụ cộng thêm đặc tính “chuyển dời nguyên kiện bưu gửi bằng đường vật lý” làm cho phía DN khó có thể phát triển các hình thức cung ứng dịch vụ từ xa (qua Internet hay qua điện thoại…), do vậy quá trình gặp gỡ trực tiếp với khách hàng là tất yếu và vì thế việc quản lý sự tham gia của khách hàng trong quá trình ấy cũng là tất yếu.
1. Hệ thống tạo dịch vụ trong DN dịch vụ
Để cung ứng dịch vụ cho khách hàng, DN dịch vụ phải xây dựng một hệ thống cung ứng dịch vụ. Trong sản xuất hàng hoá hữu hình, ta có các khái niệm như: produce - sản xuất, product - sản phẩm, production - quá trình tạo ra sản phẩm. Trong cung cấp dịch vụ, chúng ta chỉ tìm thấy 2 khái niệm tương tự là serve – sự phục vụ, service - dịch vụ mà không tìm thấy một từ nào có thể dùng để diễn tả quá trình tạo ra dịch vụ (tương ứng với từ production trong sản xuất hàng hóa). Chính vì vậy, Piere Eiglier và Eric Langeard (Đại học Luật, Kinh tế và Khoa học Aix-Maseille – Pháp) đã đề nghị sử dụng một từ mới servuction để diễn tả quá trình tạo ra dịch vụ.
Các yếu tố cấu thành của servuction được xác định trên cơ sở trả lời câu hỏi: cần có gì để chế tạo ra dịch vụ? Tương tự như trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa hữu hình, chúng ta dễ dàng nhận thấy ba yếu tố cơ bản đầu tiên đó là: nhân viên cung ứng dịch vụ (nhân viên tiếp xúc), yếu tố vật chất (bàn ghế, nhà cửa, tủ két...) và người hưởng dịch vụ (khách hàng). Nhưng hệ thống servuction khác với hệ thống chế tạo ra một hàng hóa hữu hình ở một điểm cơ bản đó là: khách hàng là một bộ phận cấu thành của hệ thống (Hình 1).
Hình 1: Hệ thống servuction
Trên đây chỉ là hệ thống servuction được mô tả một cách đơn giản nhất, điều đó có nghĩa là với 4 yếu tố trên đặt cạnh nhau là chưa đủ để tạo ra một dịch vụ theo nghĩa đầy đủ, do vậy cần phải thêm vào 2 yếu tố nữa đó là: tổ chức nội bộ của DN dịch vụ và các khách hàng khác. Tổng quan lại, các yếu tố của hệ thống servuction bao gồm: (1) Khách hàng; (2) Cơ sở vật chất; (3) Người cung cấp dịch vụ - nhân viên tiếp xúc; (4) Bản thân dịch vụ; (5) Tổ chức nội bộ trong DN dịch vụ; (6) Các khách hàng khác. Quan hệ giữa các yếu tố của hệ thống được mô tả như Hình 2.
Hình 2: Mối quan hệ giữa các yếu  tố trong hệ thống Servuction
Các vấn đề về quản lý xuất phát từ việc nghiên cứu hệ thống servuction:
(1) Đặc tính chung của hệ thống servuction:
- Hệ thống gồm các yếu tố cấu thành xác định
- Tất cả các yếu tố cấu thành của hệ thống có mối liên hệ tác động qua lại
- Mỗi sự thay đổi ở một yếu tố của hệ thống đều tác động đến các yếu tố khác trong hệ thống
- Hệ thống hoạt động hướng tới một mục tiêu chung
- Hệ thống hoạt động hướng tới trạng thái cân bằng
- Mọi sự thay đổi của một yếu tố sẽ tác động qua lại với các yếu tố khác trong hệ thống và tạo ra một sự thay đổi ở kết quả của hệ thống.
(ii) Chặt chẽ ngay từ giai đoạn đầu thiết kế dịch vụ:
- Servuction phải được nhìn nhận dưới góc độ “hệ thống” với đầy đủ các yếu tố của nó và mục tiêu cơ bản của cả hệ thống là làm thỏa mãn khách hàng và làm dễ dàng cho khách hàng khi chính họ tham gia vào hệ thống.
- Việc thiết kế dịch vụ phức tạp hơn so với việc xây dựng một nhà máy bởi vì yếu tố khách hàng là một yếu tố bên ngoài, khó kiểm soát. Chính vì vậy thiết kế một dịch vụ cần phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
+ Phải xác định rõ ràng những kết quả cần đạt tới (dịch vụ với những đặc điểm nào, cấp độ nào sẽ được cung ứng trên thị trường)
+ Phải xác định đầy đủ các yếu tố cần thiết cho việc thực hiện một dịch vụ như: Khách hàng là những người như thế nào? Trình độ chuyên môn, lứa tuổi, giới tính của nhân viên tiếp xúc? Địa điểm, khung cảnh, thiết bị máy móc nào cần trang bị...
+ Phải đưa ra những quyết định về kiểu loại quan hệ giữa các yếu tố của hệ thống.
(iii) Phân biệt giữa “chào hàng” và “cơ sở của chào hàng”: trong đó chào hàng là dịch vụ mà DN đưa ra thị trường, cơ sở của việc chào hàng là các yếu tố của hệ thống servuction mà DN kiểm soát (nhân viên và cơ sở vật chất). Các thay đổi của DN cần phải làm rõ là thay đổi dịch vụ dành cho khách hàng hay thay đổi cách thức tạo ra dịch vụ.
(iv) Cần thiết phải phân đoạn, lựa chọn đoạn khách hàng và biểu đạt sự phân đoạn đó: xuất phát từ sự tham gia của khách hàng trong hệ thống nên sự “đồng đều” của khách hàng có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình tạo ra dịch vụ. Bên cạnh đó vì dịch vụ là vô hình nên việc DN lựa chọn đoạn khách hàng nào để phục vụ cũng cần khéo léo thông điệp để khách hàng chủ động đến hoặc không đến với DN.
(v) Các quyết định về công suất của hệ thống (dung lượng): bao nhiêu khách hàng được phục vụ trong một ngày? bao nhiêu khách hàng được phục vụ cùng một lúc? khách hàng phải chờ đợi ở mức độ nào?... có liên quan chặt chẽ đến số lượng, trình độ nhân viên và cơ sở vật chất kỹ thuật sẽ đầu tư.
2. Quản lý sự tham gia của khách hàng trong servuction của DN bưu chính/chuyển phát
a. Vai trò của khách hàng trong quá trình tạo ra dịch vụ:
Trong quá trình cung ứng và tiêu dùng dịch vụ bưu chính, chuyển phát thì vai trò của khách hàng được thể hiện dưới 3 góc độ đó là:
- Người tiêu dùng dịch vụ: khách hàng được hưởng lợi ích từ việc chuyển dời bưu gửi từ nơi này, đến nơi khác.
- Người tham gia tạo ra dịch vụ: khách hàng là người viết lên các ấn phẩm nhận gửi, chuẩn bị nội dung của kiện hàng, trao đổi các thông tin cần thiết với nhân viên cung ứng dịch vụ, ký nhận khi các bưu gửi được giao phát…
- Người kiểm soát dịch vụ  làm chuyển biến dịch vụ: bằng quyền lực tiêu tiền ở nơi khác, các khách hàng khiến DN bưu chính/chuyển phát tự nhìn nhận lại chất lượng cung ứng dịch vụ của mình, lý giải nguyên nhân khiến khách hàng chuyển sang sử dụng dịch vụ của các đối thủ và từ đó tiến hành các hoạt động điều chỉnh.
Dưới bất cứ vai trò nào, thì sự tham gia của khách hàng đều là rất cần thiết.
b. Ý nghĩa về sự tham gia của khách hàng của trong quá trình tạo ra dịch vụ:
- Ý nghĩa về mặt kinh tế:
Dịch vụ bưu chính/chuyển phát là lĩnh vực cần sử dụng nhiều lao động. Trong nhiều trường hợp thì chi phí cho lao động chiếm hơn phần nửa trong tổng chi phí. Điều này ảnh hưởng đến giá cả dịch vụ. Thông thường ở các DN khác thường có xu hướng áp dụng cơ giới hoá để nâng cao năng suất lao động, giảm giá dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên đối với DN bưu chính/chuyển phát, không phải lúc nào cũng thực hiện cơ giới hoá được và do vậy cách khác để khắc phục khó khăn này là lôi kéo khách hàng tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ và thông qua đó làm tăng năng suất cung ứng dịch vụ.
- Tăng cường sự thỏa mãn của khách hàng:
Xuất phát từ vấn đề khách hàng của DN bưu chính/chuyển phát có nhiều loại khác nhau cũng như qui trình tạo ra dịch vụ bao gồm cả những thao tác phức tạp lẫn đơn giản. Đối với một số khách hàng, trong thời gian phải chờ đợi để đến lượt mình được phục vụ thì họ thường có xu hướng muốn tự đảm nhận những phần việc đơn giản mà họ cho rằng mình làm được. Bằng cách đó, khách hàng có thể cảm thấy hài lòng và an tâm hơn. Thêm nữa, với những thủ tục truy vấn về hành trình của bưu gửi phức tạp (nếu khách hàng yêu cầu DN bưu chính, chuyển phát trả lời về vấn đề đó) khiến cho nhiều khách hàng mong muốn có thể tự mình điều tra xem bưu gửi của họ đang ở đâu. Chính vì những lý do trên mà hành động lôi kéo sự tham gia của khách hàng lại nhận được sự ủng hộ nhiều từ phía bản thân khách hàng, và được coi là làm thỏa mãn khách hàng.
c. Một số gợi ý về quản lý sự tham gia tích cực của khách hàng trong DN bưu chính/chuyển phát:
Như trên đã phân tích, DN kinh doanh dịch vụ bưu chính /chuyển phát thông qua nghiên cứu các ứng xử của khách hàng để một mặt thích ứng với họ, mặt khác làm cho họ chuyển biến. Dịch vụ bưu chính, chuyển phát là những dịch vụ có mức độ tiếp xúc cao giữa DN với khách hàng nên DN cung ứng dịch vụ phải theo đuổi cả hai mục tiêu: một là cải thiện năng suất, hai là cải thiện sự thỏa mãn của khách hàng. Chúng ta sẽ xem xét cách thức đạt được hai mục tiêu trên thông qua các ví dụ cụ thể dưới đây.
Cải thiện năng suất cung ứng dịch vụ bằng việc lôi kéo sự tham gia của khách hàng:
Tình huống 1 - Tăng cường “đào tạo” khách hàng:
Hãy thử hình dung giao dịch nhận gửi một kiện hàng giữa nhân viên và khách hàng sẽ mất bao nhiêu thời gian nếu khách hàng phải viết phiếu gửi vài ba lần do nhầm lẫn. Hoặc trong một tình huống khác, khách hàng đáng ra cần sử dụng dịch vụ khai giá trị cho bưu gửi thì họ lại yêu cầu dịch vụ chuyển phát nhanh chẳng hạn, điều này làm cho toàn bộ giao dịch nhận gửi chuyển phát nhanh bị hủy bỏ. Vấn đề đặt ra là DN bưu chính/ chuyển phát phải tiến hành các hoạt động “đào tạo” khách hàng. Việc “đào tạo” này có thể thực hiện bằng một trong các phương thức sau:
- Sử dụng các thông báo đơn giản, rõ ràng về các loại dịch vụ cùng với các đặc điểm của nó. Các thông báo này được trình bày dưới dạng bảng biểu tại quầy giao dịch hay các tờ gấp giới thiệu dịch vụ.
- Trưng bày các mẫu ấn phẩm đã viết sẵn: thông qua ấn phẩm đã có mẫu viết sẵn theo đúng qui định, khách hàng có thể tự nhận biết mình phải ghi những thông tin gì, ghi vào đâu, ký vào đâu?
Việc sử dụng các thông báo, hướng dẫn cũng trở nên rất có ý nghĩa trong trường hợp khách hàng chỉ đến để hỏi thủ tục, hoặc giá cước dịch vụ chứ chưa gửi thực sự. Ví dụ như khách hàng muốn biết rằng để gửi một đĩa DVD ra nước ngoài thì cần phải làm những thủ tục gì? Hay để gửi một chai nước mắm thì làm thế nào?. Trường hợp này năng suất dịch vụ sẽ bằng 0 nếu nhân viên cung ứng dịch vụ dừng tất cả các giao dịch khác để giải thích, nhân viên này chỉ cần giải thích đối với các khách hàng “đã được đào tạo cơ bản” thông qua các thông báo, hướng dẫn đã có sẵn tại bưu cục.
Tình huống 2 - Điều chỉnh thiết kế hay qui cách dịch vụ do có sự tham gia của khách hàng:
Tại quầy giao dịch có một số tình huống sau:
- Có khi nào nhân viên cung ứng dịch vụ cứ phải cố nói to, hoặc hét lên để khách hàng bên ngoài cửa kính nghe thấy rằng phải đẩy cửa vào chứ không phải kéo cửa ra hay không?
- Một khách hàng chỉ cần mua một con tem gửi thư, ngay khi bước chân vào phòng giao dịch, họ có thể nhận ra ngay là phải đi đến quầy nào không?
- Trong thùng rác đặt tại giao dịch, hay trên sàn nhà có loại ấn phẩm nào bị khách hàng vo tròn lại hoặc xé bỏ nhiều hơn loại ấn phẩm khác không? Nếu có thì vì sao? 
Câu phát biểu “khách hàng luôn luôn đúng” đã trở thành câu sáo ngữ trong thời kỳ này. Khách hàng chỉ luôn là khách hàng nhưng khách hàng thì vẫn có thể sai. Điều chú ý ở đây là nếu khách hàng cứ sai lặp đi lặp lại, hay có nhiều khách hàng mắc phải cùng một lỗi sai thì DN cần phải tự vấn lại, phải điều chỉnh lại thiết kế hay qui cách dịch vụ để tạo điều kiện cho sự tham gia của khách hàng. Các trường hợp cần phải điều chỉnh thiết kế hay qui cách dịch vụ xảy ra với DN bưu chính, chuyển phát được nêu dưới đây:
Giả sử một DN bưu chính, chuyển phát tổ chức riêng 2 quầy giao dịch, một quầy chuyên nhận gửivà một quầy chuyên phát trả. Trong một ngày, nhân viên của mỗi quầy đều phải dừng công việc của mình nhiều lần để hướng dẫn khách hàng sang quầy bên kia (do khách hàng đến để gửi thì lại vào quầy chuyên phát trả hoặc ngược lại). Trường hợp này liên quan đến việc tổ chức các chỉ dẫn cho khách hàng, bưu cục có thể xem xét để điều chỉnh lại.
Trong một ví dụ khác, các phiếu gửi do khách hàng viết thường không đạt yêu cầu và phải viết lại gây chậm trễ quá trình giao dịch và gây lãng phí ấn phẩm (phiếu gửi bưu gửi dạng 3 liên bằng giấy cacbon đòi hỏi khách hàng phải sử dụng bút bi và ấn mạnh tay thì mới đủ rõ thông tin trên cả 3 liên). Không phải khách hàng nào cũng chú ý để viết được theo đúng yêu cầu. Có thể có 3 hướng giải quyết đối với trường hợp này: Một là nâng cấp chất lượng giấy cacbon, hai là điều chỉnh thiết kế dịch vụ, sao cho khách hàng chỉ cần viết 1 liên phiếu gửi, ba là – một giải pháp táo bạo hơn – khách hàng không cần viết gì cả, khách hàng chỉ cần đọc thông tin để nhân viên nhập thông tin này vào chương trình giao dịch bằng máy tính, khách hàng sẽ ký xác nhận thông tin đó trên phiếu gửi được in ra.
Ngoài ra quầy giao dịch có thể tính đến các tình huống sau xuất phát từ sự có mặt của khách hàng trong hoạt động của mình:
- Có khi nào khách hàng tại một bưu cục cứ thấp thỏm với chiếc xe máy đang để phía ngoài cửa không? (Do bưu cục không tổ chức trông giữ xe mà quầy giao dịch lại không quay ra hướng cửa, nên khách hàng cứ chạy vào một chút, rồi lại chạy ra để ngó chừng chiếc xe của mình). Nếu câu trả lời là có thì bưu cục có suy nghĩ gì để cải thiện tình hình không? Khi không có đủ điều kiện để tổ chức trông giữ xe cho khách hàng (không có nhiều bưu cục đủ điều kiện để làm việc này) thì các quầy giao dịch có được bố trí một cách thuận lợi nhất để khách hàng yên tâm hay không ?
- Có khi nào người quản lý của DN nhận thấy rằng chỉ khi một khách hàng nhí được bế lên cao thì bé mới nhìn thấy cuốn truyện tranh để đòi mua hay không? Có cách nào để các hàng hóa thêm hấp dẫn bắt mắt khách hàng không ?
Tình huống 3 - “Lợi dụng sức lao động” của khách hàng:
Mỗi ngày, người viết bài này có dịp quan sát thấy nhân viên khai thác bưu điện mở những thùng thư và sắp xếp, khai thác chúng để gửi đến cho người nhận. Công việc sắp xếp thư theo một chiều, một mặt để thực hiện chia chọn theo địa chỉ nhận, đóng dấu hủy tem… tốn khá nhiều thời gian do những bức thư được khách hàng bỏ vào thùng thư một cách thoải mái, theo nhiều hướng, mặt sấp và mặt ngửa…
DN bưu chính có thể cải thiện năng suất lao động nếu như họ biết “lợi dụng” khách hàng, theo cách sau đây: Các thùng thư sẽ có thêm chỉ dẫn Bỏ thư vào theo chiều này tương tự như chỉ dẫn cho thẻ vào máy ATM vốn rất dễ hiểu và chả mấy ai cho thẻ vào bị nhầm cả. Thêm nữa, khe nhét thư vào trên thùng thư cũng được thiết kế tương đối vừa vặn, làm cho những bức thư khi được đưa qua khe này sẽ rơi xuống, tự động “xếp hàng” thành một tập ngay ngắn. Bưu tá hàng ngày mở thùng thư, giữ nguyên trạng tập thư đó mang về khai thác. Chúng ta thấy khách hàng không “mệt” thêm khi họ bị “lợi dụng” như vậy.
Cải thiện sự thỏa mãn của khách hàng:
Thông thường nếu khách hàng cứ phải làm những công việc mà đáng ra là của DN thì họ sẽ có cảm giác khó chịu. Tuy vậy đối với DN bưu chính/chuyển phát có rất nhiều trường hợp khách hàng mong muốn được tham gia những công việc đó.
Tình huống 4: Chuyển giao năng lực
Một DN thương mại thường xuyên gửi hàng hóa tới khách hàng thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh. Rất nhiều DN muốn biết xem hàng hóa của họ đã được chuyển đến người mua chưa và họ thường phải liên hệ với DN chuyển phát. Thông thường thì việc liên hệ bằng điện thoại hoặc gặp gỡ trực tiếp và cả hai bên đều phải tốn chi phí cho những trao đổi này.
DN chuyển phát có thể áp dụng sáng tạo các cấp độ lôi kéo sự tham gia của khách hàng theo các ý tưởng sau:
Ở cấp độ 1, DN thương mại sẽ được chỉ dẫn sử dụng chức năng “định vị bưu gửi” trên website của DN chuyển phát. Các thông tin về ngày giờ nhận gửi hoặc khai thác hàng hóa qua các trung tâm khai thác, thời gian thông quan hàng hóa, ngày giờ phát và tên người nhận… được thông báo chính xác. Trên cơ sở những thông tin này, DN thương mại có thể chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình và chỉ thực hiện trao đổi thông tin, khiếu nại với DN chuyển phát nếu hàng hóa của họ có vấn đề gì trục trặc.
Ở cấp độ 2, khi DN thương mại nhận thấy hàng hóa của họ không được vận chuyển theo hành trình và thời gian mà hai bên đã cam kết thì có thể đăng nhập vào hệ thống giải quyết khiếu nại trên website của DN chuyển phát để khởi tạo một khiếu nại về chuyện đó, họ tự theo dõi các trả lời của hệ thống mà không cần thiết gặp trực tiếp hoặc trao đổi điện thoại với DN chuyển phát. Ở tình huống này có sự giao thoa sâu rộng giữa hoạt động của khách hàng và DN cung ứng dịch vụ.
Cấp độ 3 có thể tạm gọi là lôi kéo sự tham gia từ phía khách hàng của khách hàng. Trường hợp này có liên quan tới ba đối tượng là DN chuyển phát, DN thương mại và khách hàng của DN thương mại – những người mua hàng cuối cùng. Ngay khi gửi hàng hóa qua dịch vụ chuyển phát, DN thương mại gửi một thông điệp tới người mua hàng cuối cùng với hàm ý sau:
“Hàng đặt mua của Quý khách đã được chuyển đi theo vận đơn số…(số bưu gửi của DN chuyển phát)…...vào ngày……(ngày gửi bưu gửi)…Dự kiến hàng sẽ được chuyển tới Quý khách vào ngày……..Mọi thông tin về lịch trình vận chuyển được cập nhật tại website……………(tên website của DN chuyển phát). Vui lòng liên hệ nếu có bất cứ trục trặc nào”
Ở cấp độ này, DN chuyển phát đã tiếp cận tới sự chuyển giao năng lực thay vì chỉ đơn thuần làcung ứng dịch vụ cho DN thương mại. Bằng khả năng tổ chức vận chuyển chuyên nghiệp và hệ thống công nghệ ứng dụng, DN chuyển phát đã tạo thêm giá trị cho DN thương mại. Các khách hàng của DN thương mại khi mua hàng sẽ cảm nhận được sự chuyên nghiệp, chu đáo và cảm giác an tâm về món hàng đã mua. DN thương mại thì cảm thấy khó có thể thiếu sự hỗ trợ từ DN chuyển phát, hai DN lúc này là đối tác của nhau. Và lẽ thường, DN nào biết cách tạo ra nhiều giá trị cho khách hàng của mình thì DN đó sẽ thành công, và các quan hệ đối tác thì luôn luôn bền vững.
Tài liệu tham khảo
[1]. Piere Eiglier - Eric Langeard, Marketing dịch vụ, NXB Khoa học Kỹ thuật, 1995;
[2]. Christine Hope Alan Muhleman, Doanh nghiệp dịch vụ nguyên lý điều hành, biên dịch Phân Văn Sâm, NXB Lao động xã hội, 2007.

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2013

Lá thư người lính biên giới phía Bắc đến tay bạn gái sau 34 năm

"Ngày mai anh sẽ hành quân, anh sẽ không ngủ để nhớ em, không ngủ để diệt thù, không ngủ để nhìn em suốt canh thâu, không ngủ để gần em và luôn thấy em".

Lá thư của một người lính gửi người yêu đề ngày 19/2/1979 đã được trao tận tay cho người bạn gái năm xưa ở Hải Hậu, Nam Định. Người lính ấy đã hy sinh chỉ hơn 2 tuần sau khi viết bức thư.
"Ngày mai anh sẽ hành quân, anh sẽ không ngủ để nhớ em, không ngủ để diệt thù, không ngủ để nhìn em suốt canh thâu, không ngủ để gần em và luôn thấy em!" - Đó là lời nhắn gửi của Liệt sĩ Nguyễn Thái Hòa (khi đó là Chuẩn úy, Chính trị viên phó) trong lá thư cuối cùng gửi cho người yêu.
Tháng 2/1979, đơn vị của Chuẩn úy Nguyễn Thái Hòa được lệnh hành quân cấp tốc từ Nghệ An ra Bắc và lên biên giới Lạng Sơn giữ đất quê hương, chiến đấu chống quân xâm lược.
Lá thư của Chuẩn úy Hòa viết vội cho người yêu trong hoàn cảnh đó (19/2/1979) và cũng là lá thư cuối cùng bởi hơn 2 tuần sau đó, Chuẩn úy Nguyễn Thái Hòa đã anh dũng ngã xuống, trong mịt mù khói lửa Lạng Sơn.
Hơn 34 năm sau, lá thư đó mới được tiếp nhận bởi Trung tâm tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý cho gia đình Liệt sĩ (MARIN) và việc tìm kiếm người viết - người nhận đã được xúc tiến nhanh chóng để cho ra kết quả: Liệt sĩ Nguyễn Thái Hòa sinh năm 1952, hy sinh ngày 2/3/1979 khi mới 27 tuổi, phần mộ Liệt sĩ đang nằm tại Nghĩa trang Liệt sĩ của địa phương (xã Hải Hùng, huyện Hải Hậu, Nam Định).
Người con gái trong thư mà Chuẩn úy Hòa nhắc tới, tên là Thúy, hiện là giáo viên dạy Toán đã nghỉ hưu tại quê hương ở xã Hải Hòa, huyện Hải Hậu, Nam Định.
Ngày 23/9, đại diện Trung tâm MARIN đã về Hải Hậu, trao lại bức thư của Liệt sĩ Nguyễn Thái Hòa gửi cho bạn gái và viếng phần mộ của Liệt sĩ nằm ở quê nhà.
Chị Ngô Thị Thúy Hằng, người sáng lập và điều hành Trung tâm MARIN đã viết trên Facebook cá nhân: "Người Liệt sĩ ấy mất đi, đã để lại cho cuộc đời một tình yêu đẹp. Tình yêu đất nước biên cương cao hơn tình yêu lứa đôi. Trong tình yêu lứa đôi ấy có hình ảnh, lý tưởng của đất nước".
Xin được trân trọng giới thiệu lá thư của Liệt sĩ - Chuẩn úy Nguyễn Thái Hòa:



19/2/1979
Em thân yêu của anh!.
Thư em đến với anh giữa lúc anh cùng đơn vị chuẩn bị lên đường chiến đấu.
Lẽ ra anh không báo tin này cho em và gia đình biết, phần vì thời gian rất gấp và khẩn trương, phần vì anh không muốn em phải lo lắng nhiều vì anh.
Em thân yêu! Ở xa em có thể hiểu được tâm trạng của anh lúc này không em – bâng khuâng, buồn và nhớ da diết, anh bâng khuâng vì đêm nay là đêm cuối cùng ở vùng đất khu 4 này.
Ngày mai anh sẽ ra phương bắc để bước vào cuộc chiến mới.
Nơi đó cuộc ác chiến đã và đang diễn ra, nơi đó quân thù đang giày xéo biên cương của Tổ quốc.
Nơi đó đồng đội đang chờ anh.
Anh buồn vì những lúc này anh thấy mình cô đơn và buồn tẻ.
Anh nhớ em da diết bởi vì anh sẽ phải xa em nhiều năm nữa, chưa biết khi nào anh mới quay trở lại gặp em. Ôm em và hôn em thắm thiết.
Tình yêu của em và anh trong những ngày tháng qua đã để lại cho anh tình thương em, yêu em vô bờ bến. Có thể nói rằng mỗi bước đi, mỗi ngày sống anh đều có em…
Em ơi, ngày mai anh đi về phương bắc, anh không được gặp em để có đôi lời biệt ly!.
Ra đi mang nhiều nỗi nhớ thương, ai có thể thấu hiểu được lòng anh trong lúc này em nhỉ?.
Chỉ có anh thôi, anh đang sống trong giờ phút chia ly.
Bao lời anh nói em nhờ thư, nhờ gió mây gửi đến cho em.
Anh ra đi mang theo tình em, anh ra đi để được hiểu, được sống trong giờ phút có cảm nghĩ sâu sắc và tất nhiên sẽ hiểu hết các giá trị của Tình yêu.
Một tình yêu của anh với em không giới hạn. Một tình yêu vô cùng đẹp đẽ. Dù có nói vạn lần yêu em anh cảm thấy vẫn chưa đủ. Anh không biết nói gì hơn nữa để diễn tả nỗi nhớ tình thương và yêu em như lúc này.
Em yêu thương và nhớ mãi của anh! Chỉ còn 3 giờ đồng hồ nữa là anh tạm biệt nơi đây.
Có lẽ chiến thắng của quân dân ta ngày mai có thể có cả công anh. Nhớ theo dõi tin thắng trận và mừng cho anh em nhé.
Anh đã và đang chuẩn bị hành quân như em đã biết thư cho anh. Và đêm nay anh không ngủ để ghi mối trung thư trên mảnh đất này.
Ngày mai anh sẽ hành quân, anh sẽ không ngủ để nhớ em, không ngủ để diệt thù, không ngủ để nhìn em suốt canh thâu, không ngủ để gần em và luôn thấy em.
Nhận được thư này đừng nên lo lắng nhiều và buồn em nhé – tan giặc anh về, chờ đợi anh em nhé, chờ đợi anh.
Đêm 19/2.
Anh yêu của em
Tái bút: Anh chỉ nhận được thư em ngày 6/2. Vì chuyển nên đừng ghi theo địa chỉ cũ nữa, khi nào có địa chỉ mới anh sẽ báo tin sau. Anh đã ghi thư cho chị Nhuần + Huệ và em 2 lá. Nhưng mới chỉ nhận được thư em lúc 20h ngày 19/2. (Thông cảm cho anh vì thời gian rất gấp. Ngồi ghi thư cho em ngay trong lúc tất cả đang chuẩn bị lên đường – lính mà em).

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2013

Làm việc nhóm kiểu châu Á


Tôi không tin rằng “làm việc nhóm” phát huy tác dụng với học sinh châu Á. Tôi vẫn nhớ lần đầu tiên làm việc nhóm với ba đồng môn người châu Á ở School of Education, đại học Leeds, để chuẩn bị cho một bài thuyết trình nhóm.

Chúng tôi bầu người lớn tuổi nhất làm nhóm trưởng. Những chuẩn mực xã hội được chấp nhận rộng rãi cho thấy đây là cách duy nhất để bầu nhóm trưởng cho các nhóm nhỏ một cách công bằng. Tất nhiên, chúng tôi hi vọng nhóm trưởng sẽ bảo chúng tôi phải làm gì tiếp theo. Theo một hội thảo về “thuyết trình nhóm”, chúng tôi biết rằng mỗi slide thuyết trình chỉ nên kéo dài 2 phút và chúng tôi chỉ có tổng cộng 15 phút để trình bày. Vì thế, chúng tôi ước lượng khoảng tám slide, bao gồm cả slide tiêu đề và “hỏi và trả lời”. “Hãy phân chia công việc ra”, nhóm trưởng nói, “tám slide chia cho bốn người, vậy mỗi người phụ trách hai slide. Vì mình là nhóm trưởng nên mình sẽ làm trang đầu và trang cuối”. Làm việc nhóm giảm khối lượng công việc cho mỗi người. Đây là bài học đầu tiên mà tôi học được về làm việc nhóm. Tôi đã nghĩ thế này: nếu giáo viên bắt tôi trình bày bài thuyết trình một mình, tôi sẽ phải đọc hết 20 bài báo trong danh sách đọc (danh sách dài một trang A4 và không cách dòng!). Nhưng nếu tôi có bốn bạn cùng làm, tôi sẽ chỉ phải đọc một phần năm số đó và tốn ít thời gian hơn cho việc làm slide.
Trong nhóm tôi, không ai đọc tất cả các bài báo được yêu cầu. Vấn đề xảy ra ở phần cuối bài thuyết trình của chúng tôi, khi có mấy bạn sinh viên Ả Rập giơ tay đặt câu hỏi. Quả thực, chúng tôi cho thêm slide “Hỏi và trả lời” chỉ vì lịch sự chứ không phải vì muốn khuyến khích các bạn khác trong lớp đặt câu hỏi. Vì thế, chúng tôi cần nhanh chóng quyết định xem đó là trách nhiệm của ai phải trả lời câu hỏi rắc rối đó, bởi vì sự thật là tôi đã không tập trung ngay khi kết thúc hai slide thuộc phần trình bày của mình. Tôi thậm chí chẳng hiểu nổi câu hỏi (hoặc là tôi chọn không lắng nghe câu hỏi). Tôi không mong đợi bất kì câu hỏi nào. Tôi đoán các thành viên khác trong nhóm cũng nghĩ như thế lúc đó, bởi vì chúng tôi nhìn nhau, miệng và mắt mở to kinh ngạc. Cuối cùng, dưới sức ép khủng khiếp đó, nhóm trưởng của chúng tôi đứng dậy và đọc lại thông tin trong một slide mà anh ta đã làm. Tôi không nghĩ là mọi người trong lớp hài lòng với câu trả lời vì họ yêu cầu chúng tôi lấy ví dụ từ kinh nghiệm thực tế của chúng tôi, chứ không phải nhắc lại các định nghĩa mang tính lý thuyết trên slide. Không ai trong nhóm trả lời được vì không ai đọc các bài báo về phần lý thuyết đó cả.
Vậy tôi đã học được gì từ kinh nghiệm làm việc nhóm này?
1. Làm việc nhóm không phải là để giảm khối lượng công việc. Rõ ràng là trong một bữa tiệc ngoài trời, “làm việc nhóm” có nghĩa là mọi người cùng nhau ăn uống và “dọn sạch” số thức ăn, nhưng mỗi người chỉ dùng phần của mình. “Làm việc nhóm” ở trường khác hoàn toàn với trong một bữa tiệc. Thực tế, mỗi thành viên phải làm nhiều việc hơn vì họ cần phải dành nhiều thời gian hơn để chia sẻ, thảo luận và liên lạc với nhau.
2. Làm việc nhóm không chỉ là việc chia công việc ra nhiều phần nhỏ và giao cho mỗi thành viên. Nó còn là việc xây dựng sự hiểu biết chung. Vì thế, hình tượng hóa làm việc nhóm thành một khối công việc theo kiểu dây chuyền chuyên môn hóa như trong một nhà máy sản xuất xe hơi, nơi mà mỗi công nhân chỉ làm một bộ phận nhỏ của chiếc xe, là không phù hợp.
Theo quan sát và kinh nghiệm giảng dạy của tôi tại đại học quốc tế RMIT, một số sinh viên còn chưa nhận thức được việc hoàn thành một dự án (như thuyết trình nhóm, bài luận nhóm, sự kiện ở trường) theo cách hợp tác là như thế nào. Dưới đây là những lời phàn nàn mà tôi và đồng nghiệp thường xuyên nghe thấy từ sinh viên:
1. Thật là không công bằng. Em phải làm rất nhiều, trong khi những bạn khác chẳng làm gì cả. Cuối cùng thì ai cũng bằng điểm nhau.
2. Em rất suốt ruột và lo lắng vì em là người duy nhất đã thực sự viết báo cáo. Thế là quá nhiều với em. Em cần ai đó giúp. Nếu em không làm, thì cả nhóm sẽ rớt môn mất.
3. Em bị rớt bài tập nhóm kì trước, nhưng em nghĩ đó không phải lỗi của mình. Các bạn khác trong nhóm không chịu làm gì cả.
Như bạn có thể thấy, công bằng và điểm luôn là trung tâm của các buổi thảo luận về làm việc nhóm. Điều thú vị là, làm việc nhóm, một công cụ học tập mang tính hợp tác, đầu tiên được giới thiệu như là một công cụ để thúc đẩy quá trình học (chứ không phải là kết quả học), để khuyến khích kĩ năng tư duy phê phán (chứ không phải là học ở cấp độ thấp như  ghi nhớ, thuộc lòng), và để cung cấp cơ hội cho người học thảo luận và chia sẻ kiến thức. Kết luận của tôi:
1. Chỉ đánh giá hiệu quả của nhóm dựa trên kết quả cuối cùng (bất kể thuyết trình nhóm hay bài luận nhóm) là không hợp lý. Cần thu thập và đánh giá các bằng chứng của quá trình làm nhóm như việc hợp tác với nhau, đồng ý/không đồng ý với ý kiến của nhau, tranh luận, thuyết phục giữa các thành viên.
2. Phản hồi từ giáo viên cần chỉ ra những điểm yếu và điểm mạnh trong tổ chức làm việc nhóm.
3. Cần chỉ ra sự khác nhau  giữa “đánh giá việc học” (để thúc đẩy việc học) và “đánh giá quá trình học” (để đánh giá các kĩ năng/khả năng). Làm việc nhóm không thôi chưa đủ để đánh giá sinh viên toàn diện. Sẽ là sai lầm nếu chỉ dùng bài tập nhóm để đánh giá mang tính quyết định khả năng của sinh viên
Wei Wei
(Phòng Kỹ năng Học thuật, Trường ĐH Quốc tế RMIT Việt Nam)
Theo báo Thanh Niên.

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

Những hòm thư dần biến mất trong thành phố…



Nhung hom thu dan bien mat trong thanh pho…
Một trong những dấu ấn của Hà Nội từ thời xưa: cột điện sắt và hòm thư sơn vàng. Giờ thì cột điện bê tông khắp nơi, tương lai sẽ chẳng còn cột điện trong thành phố (TP), khi cáp ngầm chôn xuống đất. Còn những hòm thư vàng thì sao?



1. Thời học cấp 3 trường chuyên Yên Hòa (1995 - 1997), ngày nào tôi cũng đạp Mifa vàng chanh qua bưu điện (BĐ) 165 Cầu Giấy, có 2 hòm thư vàng trước cửa. Tem 200 đồng, rồi lên 400. Gửi bài cho các báo, tạp chí đều, nên 2 hòm thư thân thiết, tôi ra BĐ lấy nhuận bút quen đến mức không cần chứng minh thư. Lâu nay, tôi thưa ít gửi thư và lĩnh tiền, ít vào BĐ. Bài vở đều dùng email. Thăm hỏi có điện thoại. Song tôi luôn trân trọng sự hiện diện của các bưu cục (BC). Qua vụ mua vé Jet Star (cho hành khách trả tiền qua BĐ), tôi giật mình: BĐ Giảng Võ, Ngọc Khánh (trên đường Kim Mã) không còn.
Giấy báo nhuận bút Sông Hương lọt xuống BC 209 Xuân Thủy, sinh cớ cho tôi vào BĐ. Với tôi, BĐ và những hòm thư vàng, là một hiện hữu của thế giới tinh thần phong phú, tình cảm con người vẫn còn ấm áp.

Chị Chu Thanh Thảo, nhân viên BC, vừa gói bưu phẩm cho cô sinh viên, vừa ngậm ngùi: "Chị ở Cổ Nhuế, làm ở đây thích lắm, được phục vụ SV - trẻ trung lây. Thế mà hết tháng 12 năm nay, BC sẽ đóng cửa. Thuê nhà đắt, tiền thu vào không đủ nên sếp cho đóng. Chị tiếc và buồn lắm".
Hòm thư bưu điện có thành niềm hoài cổ?

BC Hồ Tùng Mậu gần trường ĐHSK - ĐA, Thương mại đóng lâu rồi. BC Xuân Thủy gần cụm trường Ngoại ngữ, Sư phạm sắp mất. Chống chếnh!

2. Thế giới phẳng kết nối loài người. Quá lệ thuộc vào internet, đến mức cho rằng mọi tra cứu, giao dịch, liên lạc ở đó thay thế các hình thức truyền thống thì quả vô lý và bất thường.
Xã hội ngày phát triển, đời sống công nghiệp, "công nghiệp" cả tư duy. Nhiều người luôn vội vã, hối hả, đơn điệu, máy móc theo quy trình, sức ép công việc. Không sống như họ cần là, theo giới tính của mình, dành thời gian cho tình yêu và nghệ thuật một cách xứng đáng, họ buộc phải lựa chọn theo thứ bậc của tham vọng. Sự "tha hóa" bào mòn xúc cảm, trí tưởng tượng, lòng vị tha và sẻ chia. Ở các nước thuộc G7, nhóm quốc gia giàu mạnh nhất thế giới, BĐ vẫn luôn hoạt động sôi động. Về nhịp sống, tiết tấu tư duy, họ nhanh hơn chúng ta từ lâu, vẫn nâng niu giá trị cổ điển. Du lịch đâu, người châu Âu đều có thói quen gửi post card ảnh nơi ấy, kể qua về sức khỏe, vùng họ đang thăm thú và những dòng thăm hỏi người thân. Họ không quên gửi thiếp, quà Giáng sinh, năm mới qua bưu điện. Ảnh, bưu thiếp nhiều người cùng ngắm được, lưu giữ thành kỷ vật, chữ thể hiện tính cách, tâm trạng của người viết, làm sao thiếp "tập thể" gửi qua email, chữ "dolly" theo các font mặc định thay thế bút tích con người! Nhìn phong bì, tem, thấy từng giai đoạn lịch sử. Dấu bưu điện là "vân tay" của địa danh. Tôi đã thấy những lá thư P. Picasso gửi bạn và các người tình, lưu giữ tại bảo tàng mang tên danh họa ở Paris. Kinh đô ánh sáng lộng lẫy đầy giá trị văn hóa, với nhiều các la poste (bưu điện).
Đây không chỉ là vấn đề văn hóa, mà là câu chuyện báo động về xã hội, về nhân văn. Thay đổi, sáp nhập, nâng cấp, chúng ta có nhiều những tập đoàn. Tập đoàn Bưu chính viễn thông VN (VNPT) có từ 9/1/2006, cho thấy sự phát triển hay thiếu hụt, BC, hòm thư mất dần trên đường phố, con người bận rộn hay lãnh cảm, vô tình? Tôi hỏi người ít viết, kẻ không một lần viết thư, gửi bưu thiếp, gửi quà qua BĐ; hay hỏi ông Bùi Văn Lực, giám đốc Bưu điện TP Hà Nội về những hòm thư màu vàng ngày một vắng nơi TP "rộng lạ kỳ"?!

Tại các nước phát triển, người dân vẫn giữ rất nhiều những hòm thư bưu điện
Hàng năm, tổ chức Bưu chính thế giới (UPU) vẫn có cuộc thi viết thư gửi nhân vật nổi tiếng nào đó, theo chủ đề. Trong xã hội tiện nghi xa xỉ phương Tây, những đứa trẻ vẫn được nuôi niềm tin vào cổ tích, vào phép lạ, hàng triệu lá thư vẫn gửi tới ông già Noel, một ông già có thật ở làng quê Phần Lan, ông không thể gửi quà và trả lời thư của tất cả lũ trẻ trông ngóng, khao khát, dẫu có mấy chục trợ lý.
Danh giá nhất nước Pháp, một trong các trường ĐH lâu đời và uy tín nhất thế giới - ĐH Sorbone (từ 1257) khu La tinh (Quatier Latine) Paris, mở lớp dạy viết thư tay mỗi năm. Mỗi khi cần biểu tỏ tình cảm, sự quan tâm đặc biệt đến ai, tôi vẫn viết thư tay. Viết tay thật truyền cảm. Những file nén không bao giờ thay thế được bút tích. Đâu chỉ là chữ ký dưới các văn bản hay tên họa sĩ ở góc các bức tranh. Nét chữ nét người. Mong chờ lá thư tay khó làm sao, thời ngôn ngữ chat dày đặc lỗi chính tả và từ "hè phố" thịnh hành.

3. Theo thống kê mới nhất của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), hiện có khoảng 2 tỷ người dùng internet, tức 1/3 nhân loại. Chợt nhớ câu thơ: "Sau một đêm, thủ đô bỗng bao la chẳng ai lường nổi/ Đi mãi chưa hết thành phố của mình" (Sốt chiều, Vi Thùy Linh). Sau 1/8/2008, TP của tôi rộng không thể tưởng. Nó có 9 bưu điện trung tâm (TT) cho các khu vực quận, huyện. Hoàn Kiếm, Ba Đình (TT 1), Hai Bà Trưng, Hoàng Mai (TT2), Đống Đa, Cầu Giấy (TT3)... 2000 đồng/ con tem, hiếm dần người mua để dán. Những lá thư tay luôn làm tôi rung động, chưa nói đến thư tình.

Báo in cũng ít được đọc, vì dân tình hay "lướt" báo mạng (mất khả năng đọc tiểu thuyết, nghiền ngẫm văn chương). Ô tô vàng của Bưu chính Việt Nam (VN) ít chuyến hơn. Bác đưa thư miền núi cuốc bộ, xe đạp, đi ngựa len lỏi khốn khổ, mệt mỏi, bớt rồi. Những bưu tá phóng xe máy nơi đô thị nhàn nhiều, vì thư ít.
Trên con tem, dấu bưu điện mực đen tròn (đóng tay), hình sóng (chạy máy) lạc lõng trong bộn bề thờ ơ. Đồng phục vàng, ô tô vàng, hòm thư vàng ít dần, báo động một cuộc sống lạnh lùng, hối hả không kịp thở.

Ngạn ngữ Pháp có câu: "Với tất cả những cái nếu, có thể bỏ Paris vào một cái chai". Cứ mong, những hòm thư vàng sẽ "mọc" trở lại, ở khu dân cư, ngã tư, trường học, hình ảnh cảm động mà tôi mơ ước. Không cần nhét thư vào chai thả ra sông, biển; đứng bên hòm thư vàng đất thánh, gửi thư tay cho người yêu quý và chờ thư tay hồi đáp, tôi tự "đánh dây thép" vào mơ mộng của mình.

Bưu điện Bờ Hồ, nơi tính kim số 0 từ trung tâm thủ đô tỏa các nơi, nhìn ra hồ thiêng. Trên cao, vẫn chạy đều đồng hồ kim trắng nền đen 4 mặt.


Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

ePost

Để có thể sớm xoá lỗ và kinh doanh có lãi, Bưu chính Việt Nam đang phải đứng trước khá nhiều thách thức trong đó có vấn đề đổi mới công nghệ. Chính vì vậy, một nền bưu chính điện tử - ePost đang là đích mà những người làm bưu chính hướng tới.
Trả lời phỏng vấn của báo giới bên lề Hội nghị Hội đồng Chấp hành Liên minh Bưu chính khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APPU-EC meeting) vừa kết thúc cuối tuần qua, Tổng giám đốc Tổng công ty Bưu chính Việt Nam VnPost Đỗ Ngọc Bình đã cho hay, mô hình bưu chính điện tử là một trong những định hướng đã được đưa ra.
Theo ông Bình, ePost là dịch vụ giao thoa giữa công nghệ và ngành nghề đó là chuyển phát vật lý của bưu chính cùng với công nghệ số hoá và các phương tiện thanh toán. Ba yếu tố trên phải được thực hiện cùng trên 1 mặt bằng thì mới có thể thực sự cung cấp được e-Post.

Ở Việt Nam, điều kiện cơ sở hạ tầng của Bưu chính cũng đã có những nền tảng nhất định nhưng để thực hiện một cách đầy đủ một nền bưu chính điện tử còn phải có chuẩn bị hạ tầng tốt hơn nữa. Chẳng hạn đối với lĩnh vực chuyển phát vật lý bưu chính, thời điểm này Việt Nam cần phải cơ cấu lại hệ thống tổ chức của mình để đảm bảo chất lượng. Việc thứ hai cần làm là xây dựng được hạ tầng về CNTT mạnh để đảm bảo có hạ tầng cung cấp dịch vụ này. Phương tiện thanh toán cũng cần phải thay đổi, nếu cứ sử dụng tiền mặt như hiện nay thì e-Post sẽ gặp khó khăn trong triển khai.
Liệu ePost có là tương lai xa?

Việc triển khai bưu chính điện tử phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng cũng như năng lực của từng quốc gia, tuy nhiên, với Việt Nam, một mô hình bưu chính điện tử không phải là quá tầm với, thậm chí, có thể trở thành hiện thực trong tương lai gần - Tổng giám đốc Đỗ Ngọc Bình đã lạc quan cho biết như vậy. Theo ông, lợi thế của Bưu chính Việt Nam là được thành lập từ việc tách ra khỏi viễn thông của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam - đơn vị có hạ tầng viễn thông và CNTT rất mạnh. Trên thực tế, Bưu chính Việt Nam cũng đã cung cấp một số dịch vụ mang màu sắc của ePost dù vấn đề thanh toán còn phụ thuộc vào những ngành nghề khác như dịch vụ phát hàng thu tiền COD...
Mới đây, tại buổi trả lời trực tuyến của Bộ Thông tin và Truyền thông trong lĩnh vực Bưu chính, Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng đã khẳng định, để thực sự hướng tới một ngành Bưu chính Việt Nam năng động,  việc ứng dụng bưu chính điện tử là cần thiết  và tất  yếu. Và ứng dụng CNTT sẽ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bưu chính trong thời gian tới. Để các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp bưu chính, có nhiều cơ hội hơn trong việc phát triển thương mại điện tử, nhà nước đã ban hành những chính sách khuyến khích và hỗ trợ cho ứng dụng CNTT và phát triển thương mại điện tử. 
Với lời khẳng định của những người đứng đầu ngành Bưu chính Việt Nam, dù còn nhiều việc phải làm, nhưng chắc chắn, một nền Bưu chính điện tử của Việt Nam sẽ không ở thì tương lai xa mà sẽ rất gần, trong tầm tay với.

Lược sử về ngành bưu điện

Ngày 14/4/1859, thực dân Pháp thành lập tại Sài Gòn bưu cục đầu tiên ở Việt Nam có nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc cho bộ chỉ huy quân đội Pháp giữa Sài Gòn với chính phủ Pháp.

Cuối năm 1860, hai đường dây điện báo hữu tuyến SàiGgòn - Biên Hòa (28km), Sài Gòn - Chợ Lớn (7km) được xây dựng đảm bảo thông tin liên lạc trong nội bộ từng vùng. Để bổ sung cho thông tin điện báo, năm 1862 thực dân Pháp chú ý đến phát triển bưu chính và mở đường thư Sài gòn - Biên Hòa. Năm 1863 mở thêm đường thư Sài Gòn - Gò Công - Tây Ninh - Trảng Bàng. Thời gian này, thực dân Pháp phát hành con tem đầu tiên tại Việt Nam.

Ngày 07/9/1863 do việc chuyển thư từ bằng đường biển không thỏa mãn nhu cầu thông tin nên thực dân Pháp sau khi thương lượng với Anh xây dựng đường cáp nối liền Singapo - Vũng Tàu vào ngày 10/6/1871 và đến 31/7/1871 quân đội Pháp tại Hà Nội liên lạc được thẳng với chính phủ ở Pháp bằng đường cáp này.

Năm 1876, do nhu cầu thông tin liên lạc giữa bộ chỉ huy quân Pháp ở Sài Gòn với các đơn vị rải rác khắp 3 miền cùng với nhu cầu thông tin thương mại đòi hỏi Pháp mở thêm bưu cục ở một số tỉnh như Hải Phòng, Quy Nhơn.

Năm 1883, sau khi nhà Nguyễn ký hiệp ước đầu hàng chấp nhận cho Pháp bảo hộ nước ta, do nhu cầu thông tin phục vụ công tác bình định và quản lý đất đai, thực dân Pháp đặt kế hoạch xây dựng đường hữu tuyến điện dài 2000km nối Hà Nội - Vinh - Huế - Đà Nẵng - Sài Gòn. Năm 1884 bắt đầu khởi công xây dựng dự tính đến tháng 3/1888 sẽ hoàn thành.

Chỉ trong vòng một năm, Pháp đã tổ chức được một mạng lưới thông tin liên lạc ở khắp các thành phố lớn nhỏ trên toàn cõi Việt Nam bằng cách cho mở các bưu cục ở các tỉnh thuộc Bắc Kỳ, Trung Kỳ, xây dựng các trạm liên lạc với các đơn vị ở Cao Bằng, Lào Cai để đối phó với những cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta.

Năm 1889, thực dân Pháp xây dựng mạng lưới điện thoại đầu tiên ở Hà Nội phục vụ công sở và thuê bao tư nhân. Năm 1894, Sài Gòn cũng có đường điện thoại.

Nhiệm vụ của bưu điện thực dân không phải là phục vụ đánh chiếm đất đai nữa mà chủ yếu thỏa mãn nhu cầu thông tin liên lạc trong công cuộc bảo vệ và củng cố chính quyền thực dân, chống phá phong trào cách mạng. Ngoài ra còn có nhiệm vụ phục vụ cho công cuộc khai thác, bóc lột thuộc địa của tư bản Pháp. Tổng đài điện báo được sử dụng trong việc phục vụ các công ty buôn bán, nhiều bưu cục được mở ở những nơi tập trung buôn bán của bọn tư sản hoặc gần các đồn điền, hầm mỏ. Bưu điện còn là cơ quan vận chuyển hàng hóa loại nhẹ phục vụ xuất nhập khẩu, tiếp tế cho các đồn quân sự xa xôi. Ngoài công văn, thư báo, bưu phẩm bưu kiện lĩnh hóa giao ngân trong nước với nước Pháp. Bưu điện thời Pháp thuộc mở thêm nghiệp vụ gửi bưu phẩm, bưu kiện khai giá, chuyển tiền.

Ngày 14/11/1901, Toàn quyền Du-me ban hành Nghị định tổ chức lại ngành Bưu điện cho phù hợp với bộ máy cai trị. Toàn cõi Đông dương được chia làm 5 khu vực bưu điện: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Cao Miên (Cambodge) đặt dưới quyền điều khiển của một Tổng giám đốc do Toàn quyền Đông dương bổ nhiệm.

Năm 1903, lần đầu tiên lần đầu tiên thông tin vô tuyến phát đi từ tháp chuông nhà thờ lớn Hà Nội bằng máy điện báo vô tuyến.

Năm 1904, trong cả nước thiết lập 3 sở VTĐ phục vụ quân đội ở Đồn Thủy (Hà Nội), Kiến An và Vũng Tàu.

Năm 1906, Nha Tổng giám đốc Bưu điện Đông dương được chính thức thành lập

Ngày 30/4/1909, chính quyền thực dân ra Nghị định thành lập Sở VTĐ. Thông tin VTĐ cùng với hệ thống thông tin liên lạc hữu tuyến phục vụ đắc lực cho công cuộc khai thác thuộc địa và đàn áp phong trào yêu nước ở Việt Nam.

Năm 1917, hệ thống Bưu chính được tổ chức ở Bắc Kỳ, năm 1918 ở Cao Miên. Trong hoạt động tổ chức bưu chính nông thôn, thực dân Pháp vẫn giữ lại nhiều hình thức hoạt động của tổ chức bưu vận thời phong kiến nhà Nguyễn vì đây là hình thức tổ chức tối ưu trong điều kiện đường giao thông nông thôn và phương tiện vận chuyển căn bản chưa có gì thay đổi.

Năm 1925, trường Cao đẳng Thương mại Đông dương ở Hà Nội mới mở một ban học chuyên môn về bưu điện với mục đích đào tạo các phó giám thị và phó kiểm soát viên Bưu điện. Sinh viên là những người đã tốt nghiệp thành chung (Trung học cơ sở bây giờ) hay tú tài (Trung học phổ thông). Các lớp Bưu điện đã đào tạo được một số chuyên viên Việt Nam có trình độ vững chắc cả lý thuyết và thực hành.

Tháng 4/1926, trường Cao đẳng Thương mại mở thêm khoa Bưu chính và điện báo đào tạo những nhân viên tiếp nhận điện báo người bản xứ, thành lập thêm khoa điện báo vô tuyến cung cấp những kỹ thuật viên cao cấp cho việc điều hành hệ thống VTĐ của Pháp ở Đông dương.

Tháng 1/1929, Pháp thiết lập liên lạc bưu chính qua đường hàng không giữa Pháp và Đông dương. Sau đó mới thiết lập hệ thống hàng không trong nội bộ Đông dương. Việc vận chuyển thư từ qua đường hàng không đã tăng tốc độ truyền tin trong lĩnh vực bưu chính lên nhiều.

Từ 1920 - 1927, thực dân Pháp liên tiếp phát hành nhiều loại tem mới về văn hóa của Việt Nam.

Về điện chính, thực dân Pháp đã xây dựng một mạng lưới điện báo, điện thoại tương đối hoàn chỉnh và ổn định đủ sức phục vụ quản lý nhà nước và công cuộc khai thác bóc lột thuộc địa tại các tỉnh tới các đồn binh, những vị trí quân sự hiểm yếu, hầm mỏ, đồn điền và nơi nghỉ mát….thiết bị điện báo dùng phổ biến là máy morse truyền bằng đường dây, chỉ khi có bão dây bị đứt mới dùng điện báo vô tuyến. Riêng Hà Nội đi một vài tỉnh lớn như Hải Phòng, Nam Định, Vinh lúc này đã có máy Hughes in thành chữ. Tuyến Hà Nội đi Đà Nẵng, Sài Gòn có máy Baudot cũng in thành chữ chuyển theo tần số.

Thời kỳ này, Pháp sử dụng điện thoại từ thạch ở những thành phố, thị xã lớn. Ngày 15/3/1930 riêng Sài Gòn - Chợ Lớn, còn sử dụng hệ thống điện thoại tự động. Lúc này ở Hà Nội có tổng đài điện thoại 2000 số, Hải Phòng có tổng đài 500 số, Nam Định có tổng đài 200 số, các thị xã có tổng đài từ 50 số trở xuống. Thời kỳ này chỉ liên lạc được điện thoại từ Hà Nội - Huế, từ Sài Gòn - Phnôm pênh là xa nhất, không liên lạc điện thoại được Hà Nội - Đà Nẵng - Sài gòn.

Tóm lại, thời kỳ này thực dân Pháp đã quan tâm cải tiến cơ cấu tổ chức cho phù hợp với nhiệm vụ khai thác, bóc lột thuộc địa, chuyển một số nhiệm vụ và phương thức thông tin liên lạc ở quân đội sang cho bưu điện dân sự quản lý và khai thác, đưa máy bay vào vận chuyển bưu chính để nâng cao tốc tốc truyền tin, phát hành nhiều loại tem và phát triển hệ thống bưu chính nông thôn. Tuy nhiên, bề ngoài thì Bưu điện là cơ quan phục vụ công cộng nhưng thực chất đó là của riêng bọn thực dân, tư sản, địa chủ chứ không nhằm phục vụ quảng đại nhân dân.

Năm 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bùng phát, ngành Bưu điện Đông dương cũng bị ảnh hưởng nên phải cắt giảm nhân viên, sáp nhập 5 khu vực Bưu điện, chia làm 2 khu để tiết giảm chi phí:

- �Khu Bắc gồm Bắc Kỳ, một số tỉnh của Lào, một phần Trung Kỳ từ Thanh Hóa đến Quảng Nam

- �Khu Nam gồm Trung Kỳ, Cao Miên, phần còn lại của Trung Kỳ, các tỉnh còn lại của Lào.

Trường Cao đẳng Bưu điện cũng bị đóng cửa. Bưu điện thực dân Pháp bản chất không phải là xí nghiệp hạch toán kinh doanh mà là phương tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu quản lý nhà nước của bộ máy cai trị và phục vụ khai thác thuộc địa, nên mặc dù khủng hoảng kinh tế nhưng Bưu điện vẫn được Pháp tiếp tục đầu tư những cơ sở vật chất kỹ thuật để duy trì hoạt động bằng việc mở rộng hệ thống giao thông nội địa đến quốc ngoại từ điện tín, điện thoại đến đường xe lửa, hàng không…

Năm 1945, chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, Pháp quay lại xâm chiếm nước ta lần nữa, ở các vùng Pháp chiếm đóng trước hết là các đô thị, chúng cho duy trì hoạt động của bộ máy thông tin Bưu điện.

Năm 1949, thực dân Pháp trao trả chủ quyền lãnh thổ và nền độc lập giả hiệu cho chính quyền bù nhìn và bàn giao bưu điện thuộc địa cho chính quyền ngụy, gọi là ngành Thông tin Liên lạc trong vùng tạm chiếm - Nha Tổng giám đốc Bưu điện Việt Nam. Hoạt động của Tổng nha Bưu điện vẫn do người Pháp và lai Pháp điều khiển. Mật thám Pháp vẫn duy trì đều đặn chế độ kiểm duyệt thư tín và điện báo. Các hoạt động nghiệp vụ bưu điện ngụy vẫn tiếp tục rập khuôn các thể lệ của người Pháp.

Những năm 1953-1954 nhờ nhu cầu báo chí của các hãng thông tấn nước ngoài liên lạc điện tín, điện thoại tường thuật các chiến thắng về quân sự, chính trị của quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam nhất là dịp chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Giơ-ne-vơ, doanh thu khá lớn, đồng thời cũng rộ lên doanh thu nhờ con số lệ phí thu về ngân khoản rất lớn do số lượng ngân phiếu của các nhà tư sản mại bản và các đảng phái phản động gửi tiền sang Pháp, sang các nước trung lập vì chúng đã tiên liệu được sự sụp đổ không thể cứu vãn của chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam và chuẩn bị trước cho cuộc tháo chạy.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơ-ne-vơ, những hoạt động của Bưu điện thuộc Pháp cùng chủ nghĩa thực dân kết thúc.

Sau năm 1954, Bưu điện thực dân Pháp còn tồn tại một thời gian rất ngắn từ vĩ tuyến 17 trở vào, khi quyền lực của thực dân Pháp ở miền Nam Việt Nam chuyển sang.