Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

Những hòm thư dần biến mất trong thành phố…



Nhung hom thu dan bien mat trong thanh pho…
Một trong những dấu ấn của Hà Nội từ thời xưa: cột điện sắt và hòm thư sơn vàng. Giờ thì cột điện bê tông khắp nơi, tương lai sẽ chẳng còn cột điện trong thành phố (TP), khi cáp ngầm chôn xuống đất. Còn những hòm thư vàng thì sao?



1. Thời học cấp 3 trường chuyên Yên Hòa (1995 - 1997), ngày nào tôi cũng đạp Mifa vàng chanh qua bưu điện (BĐ) 165 Cầu Giấy, có 2 hòm thư vàng trước cửa. Tem 200 đồng, rồi lên 400. Gửi bài cho các báo, tạp chí đều, nên 2 hòm thư thân thiết, tôi ra BĐ lấy nhuận bút quen đến mức không cần chứng minh thư. Lâu nay, tôi thưa ít gửi thư và lĩnh tiền, ít vào BĐ. Bài vở đều dùng email. Thăm hỏi có điện thoại. Song tôi luôn trân trọng sự hiện diện của các bưu cục (BC). Qua vụ mua vé Jet Star (cho hành khách trả tiền qua BĐ), tôi giật mình: BĐ Giảng Võ, Ngọc Khánh (trên đường Kim Mã) không còn.
Giấy báo nhuận bút Sông Hương lọt xuống BC 209 Xuân Thủy, sinh cớ cho tôi vào BĐ. Với tôi, BĐ và những hòm thư vàng, là một hiện hữu của thế giới tinh thần phong phú, tình cảm con người vẫn còn ấm áp.

Chị Chu Thanh Thảo, nhân viên BC, vừa gói bưu phẩm cho cô sinh viên, vừa ngậm ngùi: "Chị ở Cổ Nhuế, làm ở đây thích lắm, được phục vụ SV - trẻ trung lây. Thế mà hết tháng 12 năm nay, BC sẽ đóng cửa. Thuê nhà đắt, tiền thu vào không đủ nên sếp cho đóng. Chị tiếc và buồn lắm".
Hòm thư bưu điện có thành niềm hoài cổ?

BC Hồ Tùng Mậu gần trường ĐHSK - ĐA, Thương mại đóng lâu rồi. BC Xuân Thủy gần cụm trường Ngoại ngữ, Sư phạm sắp mất. Chống chếnh!

2. Thế giới phẳng kết nối loài người. Quá lệ thuộc vào internet, đến mức cho rằng mọi tra cứu, giao dịch, liên lạc ở đó thay thế các hình thức truyền thống thì quả vô lý và bất thường.
Xã hội ngày phát triển, đời sống công nghiệp, "công nghiệp" cả tư duy. Nhiều người luôn vội vã, hối hả, đơn điệu, máy móc theo quy trình, sức ép công việc. Không sống như họ cần là, theo giới tính của mình, dành thời gian cho tình yêu và nghệ thuật một cách xứng đáng, họ buộc phải lựa chọn theo thứ bậc của tham vọng. Sự "tha hóa" bào mòn xúc cảm, trí tưởng tượng, lòng vị tha và sẻ chia. Ở các nước thuộc G7, nhóm quốc gia giàu mạnh nhất thế giới, BĐ vẫn luôn hoạt động sôi động. Về nhịp sống, tiết tấu tư duy, họ nhanh hơn chúng ta từ lâu, vẫn nâng niu giá trị cổ điển. Du lịch đâu, người châu Âu đều có thói quen gửi post card ảnh nơi ấy, kể qua về sức khỏe, vùng họ đang thăm thú và những dòng thăm hỏi người thân. Họ không quên gửi thiếp, quà Giáng sinh, năm mới qua bưu điện. Ảnh, bưu thiếp nhiều người cùng ngắm được, lưu giữ thành kỷ vật, chữ thể hiện tính cách, tâm trạng của người viết, làm sao thiếp "tập thể" gửi qua email, chữ "dolly" theo các font mặc định thay thế bút tích con người! Nhìn phong bì, tem, thấy từng giai đoạn lịch sử. Dấu bưu điện là "vân tay" của địa danh. Tôi đã thấy những lá thư P. Picasso gửi bạn và các người tình, lưu giữ tại bảo tàng mang tên danh họa ở Paris. Kinh đô ánh sáng lộng lẫy đầy giá trị văn hóa, với nhiều các la poste (bưu điện).
Đây không chỉ là vấn đề văn hóa, mà là câu chuyện báo động về xã hội, về nhân văn. Thay đổi, sáp nhập, nâng cấp, chúng ta có nhiều những tập đoàn. Tập đoàn Bưu chính viễn thông VN (VNPT) có từ 9/1/2006, cho thấy sự phát triển hay thiếu hụt, BC, hòm thư mất dần trên đường phố, con người bận rộn hay lãnh cảm, vô tình? Tôi hỏi người ít viết, kẻ không một lần viết thư, gửi bưu thiếp, gửi quà qua BĐ; hay hỏi ông Bùi Văn Lực, giám đốc Bưu điện TP Hà Nội về những hòm thư màu vàng ngày một vắng nơi TP "rộng lạ kỳ"?!

Tại các nước phát triển, người dân vẫn giữ rất nhiều những hòm thư bưu điện
Hàng năm, tổ chức Bưu chính thế giới (UPU) vẫn có cuộc thi viết thư gửi nhân vật nổi tiếng nào đó, theo chủ đề. Trong xã hội tiện nghi xa xỉ phương Tây, những đứa trẻ vẫn được nuôi niềm tin vào cổ tích, vào phép lạ, hàng triệu lá thư vẫn gửi tới ông già Noel, một ông già có thật ở làng quê Phần Lan, ông không thể gửi quà và trả lời thư của tất cả lũ trẻ trông ngóng, khao khát, dẫu có mấy chục trợ lý.
Danh giá nhất nước Pháp, một trong các trường ĐH lâu đời và uy tín nhất thế giới - ĐH Sorbone (từ 1257) khu La tinh (Quatier Latine) Paris, mở lớp dạy viết thư tay mỗi năm. Mỗi khi cần biểu tỏ tình cảm, sự quan tâm đặc biệt đến ai, tôi vẫn viết thư tay. Viết tay thật truyền cảm. Những file nén không bao giờ thay thế được bút tích. Đâu chỉ là chữ ký dưới các văn bản hay tên họa sĩ ở góc các bức tranh. Nét chữ nét người. Mong chờ lá thư tay khó làm sao, thời ngôn ngữ chat dày đặc lỗi chính tả và từ "hè phố" thịnh hành.

3. Theo thống kê mới nhất của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), hiện có khoảng 2 tỷ người dùng internet, tức 1/3 nhân loại. Chợt nhớ câu thơ: "Sau một đêm, thủ đô bỗng bao la chẳng ai lường nổi/ Đi mãi chưa hết thành phố của mình" (Sốt chiều, Vi Thùy Linh). Sau 1/8/2008, TP của tôi rộng không thể tưởng. Nó có 9 bưu điện trung tâm (TT) cho các khu vực quận, huyện. Hoàn Kiếm, Ba Đình (TT 1), Hai Bà Trưng, Hoàng Mai (TT2), Đống Đa, Cầu Giấy (TT3)... 2000 đồng/ con tem, hiếm dần người mua để dán. Những lá thư tay luôn làm tôi rung động, chưa nói đến thư tình.

Báo in cũng ít được đọc, vì dân tình hay "lướt" báo mạng (mất khả năng đọc tiểu thuyết, nghiền ngẫm văn chương). Ô tô vàng của Bưu chính Việt Nam (VN) ít chuyến hơn. Bác đưa thư miền núi cuốc bộ, xe đạp, đi ngựa len lỏi khốn khổ, mệt mỏi, bớt rồi. Những bưu tá phóng xe máy nơi đô thị nhàn nhiều, vì thư ít.
Trên con tem, dấu bưu điện mực đen tròn (đóng tay), hình sóng (chạy máy) lạc lõng trong bộn bề thờ ơ. Đồng phục vàng, ô tô vàng, hòm thư vàng ít dần, báo động một cuộc sống lạnh lùng, hối hả không kịp thở.

Ngạn ngữ Pháp có câu: "Với tất cả những cái nếu, có thể bỏ Paris vào một cái chai". Cứ mong, những hòm thư vàng sẽ "mọc" trở lại, ở khu dân cư, ngã tư, trường học, hình ảnh cảm động mà tôi mơ ước. Không cần nhét thư vào chai thả ra sông, biển; đứng bên hòm thư vàng đất thánh, gửi thư tay cho người yêu quý và chờ thư tay hồi đáp, tôi tự "đánh dây thép" vào mơ mộng của mình.

Bưu điện Bờ Hồ, nơi tính kim số 0 từ trung tâm thủ đô tỏa các nơi, nhìn ra hồ thiêng. Trên cao, vẫn chạy đều đồng hồ kim trắng nền đen 4 mặt.


Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

ePost

Để có thể sớm xoá lỗ và kinh doanh có lãi, Bưu chính Việt Nam đang phải đứng trước khá nhiều thách thức trong đó có vấn đề đổi mới công nghệ. Chính vì vậy, một nền bưu chính điện tử - ePost đang là đích mà những người làm bưu chính hướng tới.
Trả lời phỏng vấn của báo giới bên lề Hội nghị Hội đồng Chấp hành Liên minh Bưu chính khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APPU-EC meeting) vừa kết thúc cuối tuần qua, Tổng giám đốc Tổng công ty Bưu chính Việt Nam VnPost Đỗ Ngọc Bình đã cho hay, mô hình bưu chính điện tử là một trong những định hướng đã được đưa ra.
Theo ông Bình, ePost là dịch vụ giao thoa giữa công nghệ và ngành nghề đó là chuyển phát vật lý của bưu chính cùng với công nghệ số hoá và các phương tiện thanh toán. Ba yếu tố trên phải được thực hiện cùng trên 1 mặt bằng thì mới có thể thực sự cung cấp được e-Post.

Ở Việt Nam, điều kiện cơ sở hạ tầng của Bưu chính cũng đã có những nền tảng nhất định nhưng để thực hiện một cách đầy đủ một nền bưu chính điện tử còn phải có chuẩn bị hạ tầng tốt hơn nữa. Chẳng hạn đối với lĩnh vực chuyển phát vật lý bưu chính, thời điểm này Việt Nam cần phải cơ cấu lại hệ thống tổ chức của mình để đảm bảo chất lượng. Việc thứ hai cần làm là xây dựng được hạ tầng về CNTT mạnh để đảm bảo có hạ tầng cung cấp dịch vụ này. Phương tiện thanh toán cũng cần phải thay đổi, nếu cứ sử dụng tiền mặt như hiện nay thì e-Post sẽ gặp khó khăn trong triển khai.
Liệu ePost có là tương lai xa?

Việc triển khai bưu chính điện tử phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng cũng như năng lực của từng quốc gia, tuy nhiên, với Việt Nam, một mô hình bưu chính điện tử không phải là quá tầm với, thậm chí, có thể trở thành hiện thực trong tương lai gần - Tổng giám đốc Đỗ Ngọc Bình đã lạc quan cho biết như vậy. Theo ông, lợi thế của Bưu chính Việt Nam là được thành lập từ việc tách ra khỏi viễn thông của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam - đơn vị có hạ tầng viễn thông và CNTT rất mạnh. Trên thực tế, Bưu chính Việt Nam cũng đã cung cấp một số dịch vụ mang màu sắc của ePost dù vấn đề thanh toán còn phụ thuộc vào những ngành nghề khác như dịch vụ phát hàng thu tiền COD...
Mới đây, tại buổi trả lời trực tuyến của Bộ Thông tin và Truyền thông trong lĩnh vực Bưu chính, Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng đã khẳng định, để thực sự hướng tới một ngành Bưu chính Việt Nam năng động,  việc ứng dụng bưu chính điện tử là cần thiết  và tất  yếu. Và ứng dụng CNTT sẽ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bưu chính trong thời gian tới. Để các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp bưu chính, có nhiều cơ hội hơn trong việc phát triển thương mại điện tử, nhà nước đã ban hành những chính sách khuyến khích và hỗ trợ cho ứng dụng CNTT và phát triển thương mại điện tử. 
Với lời khẳng định của những người đứng đầu ngành Bưu chính Việt Nam, dù còn nhiều việc phải làm, nhưng chắc chắn, một nền Bưu chính điện tử của Việt Nam sẽ không ở thì tương lai xa mà sẽ rất gần, trong tầm tay với.

Lược sử về ngành bưu điện

Ngày 14/4/1859, thực dân Pháp thành lập tại Sài Gòn bưu cục đầu tiên ở Việt Nam có nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc cho bộ chỉ huy quân đội Pháp giữa Sài Gòn với chính phủ Pháp.

Cuối năm 1860, hai đường dây điện báo hữu tuyến SàiGgòn - Biên Hòa (28km), Sài Gòn - Chợ Lớn (7km) được xây dựng đảm bảo thông tin liên lạc trong nội bộ từng vùng. Để bổ sung cho thông tin điện báo, năm 1862 thực dân Pháp chú ý đến phát triển bưu chính và mở đường thư Sài gòn - Biên Hòa. Năm 1863 mở thêm đường thư Sài Gòn - Gò Công - Tây Ninh - Trảng Bàng. Thời gian này, thực dân Pháp phát hành con tem đầu tiên tại Việt Nam.

Ngày 07/9/1863 do việc chuyển thư từ bằng đường biển không thỏa mãn nhu cầu thông tin nên thực dân Pháp sau khi thương lượng với Anh xây dựng đường cáp nối liền Singapo - Vũng Tàu vào ngày 10/6/1871 và đến 31/7/1871 quân đội Pháp tại Hà Nội liên lạc được thẳng với chính phủ ở Pháp bằng đường cáp này.

Năm 1876, do nhu cầu thông tin liên lạc giữa bộ chỉ huy quân Pháp ở Sài Gòn với các đơn vị rải rác khắp 3 miền cùng với nhu cầu thông tin thương mại đòi hỏi Pháp mở thêm bưu cục ở một số tỉnh như Hải Phòng, Quy Nhơn.

Năm 1883, sau khi nhà Nguyễn ký hiệp ước đầu hàng chấp nhận cho Pháp bảo hộ nước ta, do nhu cầu thông tin phục vụ công tác bình định và quản lý đất đai, thực dân Pháp đặt kế hoạch xây dựng đường hữu tuyến điện dài 2000km nối Hà Nội - Vinh - Huế - Đà Nẵng - Sài Gòn. Năm 1884 bắt đầu khởi công xây dựng dự tính đến tháng 3/1888 sẽ hoàn thành.

Chỉ trong vòng một năm, Pháp đã tổ chức được một mạng lưới thông tin liên lạc ở khắp các thành phố lớn nhỏ trên toàn cõi Việt Nam bằng cách cho mở các bưu cục ở các tỉnh thuộc Bắc Kỳ, Trung Kỳ, xây dựng các trạm liên lạc với các đơn vị ở Cao Bằng, Lào Cai để đối phó với những cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta.

Năm 1889, thực dân Pháp xây dựng mạng lưới điện thoại đầu tiên ở Hà Nội phục vụ công sở và thuê bao tư nhân. Năm 1894, Sài Gòn cũng có đường điện thoại.

Nhiệm vụ của bưu điện thực dân không phải là phục vụ đánh chiếm đất đai nữa mà chủ yếu thỏa mãn nhu cầu thông tin liên lạc trong công cuộc bảo vệ và củng cố chính quyền thực dân, chống phá phong trào cách mạng. Ngoài ra còn có nhiệm vụ phục vụ cho công cuộc khai thác, bóc lột thuộc địa của tư bản Pháp. Tổng đài điện báo được sử dụng trong việc phục vụ các công ty buôn bán, nhiều bưu cục được mở ở những nơi tập trung buôn bán của bọn tư sản hoặc gần các đồn điền, hầm mỏ. Bưu điện còn là cơ quan vận chuyển hàng hóa loại nhẹ phục vụ xuất nhập khẩu, tiếp tế cho các đồn quân sự xa xôi. Ngoài công văn, thư báo, bưu phẩm bưu kiện lĩnh hóa giao ngân trong nước với nước Pháp. Bưu điện thời Pháp thuộc mở thêm nghiệp vụ gửi bưu phẩm, bưu kiện khai giá, chuyển tiền.

Ngày 14/11/1901, Toàn quyền Du-me ban hành Nghị định tổ chức lại ngành Bưu điện cho phù hợp với bộ máy cai trị. Toàn cõi Đông dương được chia làm 5 khu vực bưu điện: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Cao Miên (Cambodge) đặt dưới quyền điều khiển của một Tổng giám đốc do Toàn quyền Đông dương bổ nhiệm.

Năm 1903, lần đầu tiên lần đầu tiên thông tin vô tuyến phát đi từ tháp chuông nhà thờ lớn Hà Nội bằng máy điện báo vô tuyến.

Năm 1904, trong cả nước thiết lập 3 sở VTĐ phục vụ quân đội ở Đồn Thủy (Hà Nội), Kiến An và Vũng Tàu.

Năm 1906, Nha Tổng giám đốc Bưu điện Đông dương được chính thức thành lập

Ngày 30/4/1909, chính quyền thực dân ra Nghị định thành lập Sở VTĐ. Thông tin VTĐ cùng với hệ thống thông tin liên lạc hữu tuyến phục vụ đắc lực cho công cuộc khai thác thuộc địa và đàn áp phong trào yêu nước ở Việt Nam.

Năm 1917, hệ thống Bưu chính được tổ chức ở Bắc Kỳ, năm 1918 ở Cao Miên. Trong hoạt động tổ chức bưu chính nông thôn, thực dân Pháp vẫn giữ lại nhiều hình thức hoạt động của tổ chức bưu vận thời phong kiến nhà Nguyễn vì đây là hình thức tổ chức tối ưu trong điều kiện đường giao thông nông thôn và phương tiện vận chuyển căn bản chưa có gì thay đổi.

Năm 1925, trường Cao đẳng Thương mại Đông dương ở Hà Nội mới mở một ban học chuyên môn về bưu điện với mục đích đào tạo các phó giám thị và phó kiểm soát viên Bưu điện. Sinh viên là những người đã tốt nghiệp thành chung (Trung học cơ sở bây giờ) hay tú tài (Trung học phổ thông). Các lớp Bưu điện đã đào tạo được một số chuyên viên Việt Nam có trình độ vững chắc cả lý thuyết và thực hành.

Tháng 4/1926, trường Cao đẳng Thương mại mở thêm khoa Bưu chính và điện báo đào tạo những nhân viên tiếp nhận điện báo người bản xứ, thành lập thêm khoa điện báo vô tuyến cung cấp những kỹ thuật viên cao cấp cho việc điều hành hệ thống VTĐ của Pháp ở Đông dương.

Tháng 1/1929, Pháp thiết lập liên lạc bưu chính qua đường hàng không giữa Pháp và Đông dương. Sau đó mới thiết lập hệ thống hàng không trong nội bộ Đông dương. Việc vận chuyển thư từ qua đường hàng không đã tăng tốc độ truyền tin trong lĩnh vực bưu chính lên nhiều.

Từ 1920 - 1927, thực dân Pháp liên tiếp phát hành nhiều loại tem mới về văn hóa của Việt Nam.

Về điện chính, thực dân Pháp đã xây dựng một mạng lưới điện báo, điện thoại tương đối hoàn chỉnh và ổn định đủ sức phục vụ quản lý nhà nước và công cuộc khai thác bóc lột thuộc địa tại các tỉnh tới các đồn binh, những vị trí quân sự hiểm yếu, hầm mỏ, đồn điền và nơi nghỉ mát….thiết bị điện báo dùng phổ biến là máy morse truyền bằng đường dây, chỉ khi có bão dây bị đứt mới dùng điện báo vô tuyến. Riêng Hà Nội đi một vài tỉnh lớn như Hải Phòng, Nam Định, Vinh lúc này đã có máy Hughes in thành chữ. Tuyến Hà Nội đi Đà Nẵng, Sài Gòn có máy Baudot cũng in thành chữ chuyển theo tần số.

Thời kỳ này, Pháp sử dụng điện thoại từ thạch ở những thành phố, thị xã lớn. Ngày 15/3/1930 riêng Sài Gòn - Chợ Lớn, còn sử dụng hệ thống điện thoại tự động. Lúc này ở Hà Nội có tổng đài điện thoại 2000 số, Hải Phòng có tổng đài 500 số, Nam Định có tổng đài 200 số, các thị xã có tổng đài từ 50 số trở xuống. Thời kỳ này chỉ liên lạc được điện thoại từ Hà Nội - Huế, từ Sài Gòn - Phnôm pênh là xa nhất, không liên lạc điện thoại được Hà Nội - Đà Nẵng - Sài gòn.

Tóm lại, thời kỳ này thực dân Pháp đã quan tâm cải tiến cơ cấu tổ chức cho phù hợp với nhiệm vụ khai thác, bóc lột thuộc địa, chuyển một số nhiệm vụ và phương thức thông tin liên lạc ở quân đội sang cho bưu điện dân sự quản lý và khai thác, đưa máy bay vào vận chuyển bưu chính để nâng cao tốc tốc truyền tin, phát hành nhiều loại tem và phát triển hệ thống bưu chính nông thôn. Tuy nhiên, bề ngoài thì Bưu điện là cơ quan phục vụ công cộng nhưng thực chất đó là của riêng bọn thực dân, tư sản, địa chủ chứ không nhằm phục vụ quảng đại nhân dân.

Năm 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bùng phát, ngành Bưu điện Đông dương cũng bị ảnh hưởng nên phải cắt giảm nhân viên, sáp nhập 5 khu vực Bưu điện, chia làm 2 khu để tiết giảm chi phí:

- �Khu Bắc gồm Bắc Kỳ, một số tỉnh của Lào, một phần Trung Kỳ từ Thanh Hóa đến Quảng Nam

- �Khu Nam gồm Trung Kỳ, Cao Miên, phần còn lại của Trung Kỳ, các tỉnh còn lại của Lào.

Trường Cao đẳng Bưu điện cũng bị đóng cửa. Bưu điện thực dân Pháp bản chất không phải là xí nghiệp hạch toán kinh doanh mà là phương tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu quản lý nhà nước của bộ máy cai trị và phục vụ khai thác thuộc địa, nên mặc dù khủng hoảng kinh tế nhưng Bưu điện vẫn được Pháp tiếp tục đầu tư những cơ sở vật chất kỹ thuật để duy trì hoạt động bằng việc mở rộng hệ thống giao thông nội địa đến quốc ngoại từ điện tín, điện thoại đến đường xe lửa, hàng không…

Năm 1945, chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, Pháp quay lại xâm chiếm nước ta lần nữa, ở các vùng Pháp chiếm đóng trước hết là các đô thị, chúng cho duy trì hoạt động của bộ máy thông tin Bưu điện.

Năm 1949, thực dân Pháp trao trả chủ quyền lãnh thổ và nền độc lập giả hiệu cho chính quyền bù nhìn và bàn giao bưu điện thuộc địa cho chính quyền ngụy, gọi là ngành Thông tin Liên lạc trong vùng tạm chiếm - Nha Tổng giám đốc Bưu điện Việt Nam. Hoạt động của Tổng nha Bưu điện vẫn do người Pháp và lai Pháp điều khiển. Mật thám Pháp vẫn duy trì đều đặn chế độ kiểm duyệt thư tín và điện báo. Các hoạt động nghiệp vụ bưu điện ngụy vẫn tiếp tục rập khuôn các thể lệ của người Pháp.

Những năm 1953-1954 nhờ nhu cầu báo chí của các hãng thông tấn nước ngoài liên lạc điện tín, điện thoại tường thuật các chiến thắng về quân sự, chính trị của quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam nhất là dịp chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Giơ-ne-vơ, doanh thu khá lớn, đồng thời cũng rộ lên doanh thu nhờ con số lệ phí thu về ngân khoản rất lớn do số lượng ngân phiếu của các nhà tư sản mại bản và các đảng phái phản động gửi tiền sang Pháp, sang các nước trung lập vì chúng đã tiên liệu được sự sụp đổ không thể cứu vãn của chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam và chuẩn bị trước cho cuộc tháo chạy.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơ-ne-vơ, những hoạt động của Bưu điện thuộc Pháp cùng chủ nghĩa thực dân kết thúc.

Sau năm 1954, Bưu điện thực dân Pháp còn tồn tại một thời gian rất ngắn từ vĩ tuyến 17 trở vào, khi quyền lực của thực dân Pháp ở miền Nam Việt Nam chuyển sang.